Thư viện trường đại học với công tác phát triển học liệu phục vụ đào tạo theo tín chỉ (ThS. Nguyễn Văn Hành Trung tâm TT-TV ĐHQGHN)
|
|
Đổi mới giáo dục đại học là yêu cầu cấp thiết của nền giáo dục Việt Nam hiện nay, nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Một trong những biện pháp quan trọng là đổi mới cách dạy và học trong trường đại học, theo hướng tạo cho sinh viên chủ động hơn trong tiếp thu kiến thức, lấy tự học, tự nghiên cứu làm hoạt động quan trọng trong hoạt động học; giảng viên thay đổi cách dạy, cách chuẩn bị bài giảng,... Phương pháp đào tạo theo tín chỉ đáp ứng được yêu cầu trên và trở thành nhiệm vụ trọng tâm của các trường đại học nước ta hiện nay. Tuy nhiên để đào tạo theo tín chỉ, mọi hoạt động của trường đại học phải có những thay đổi nhiều mặt, trong đó có hoạt động thông tin - thư viện (TT-TV). Trong báo cáo này chúng tôi đề cập đến khía cạnh phát triển học liệu trong phục vụ đào tạo theo tín chỉ của thư viện trường đại học.
|
Subject Headings: Hiểu Và Dùng Từ Như Thế Nào? (Nguyễn Minh Hiệp, BA., MS., GĐ. Thư viện ĐH Khoa học Tự nhiên)(Trích Bản Tin Điện Tử - Câu Lạc Bộ Thư Viện, số 9-2000)
|
|
Trong tài liệu nghiệp vụ Thông tin Thư viện Tiếng Anh, Subject có hai nghĩa:
subject = chủ đề là nghĩa thông thường
subject = đề mục khi subject là cách viết thu gọn của subject heading.
Sở dĩ có cách viết thu gọn là vì Subject heading quá thông dụng trong ngành thông tin thư viện. Subject trong nghĩa này thường đi với subject catalog = mục lục đề mục xuất hiện trong những trang màn hình của một hệ thống mục lục trực tuyến (online catalog).
Ví dụ: AUTHOR (Tác giả) TITLE (Nhan đề) SUBJECT (Đề mục)
Heading là Tiêu đề. Trong ngành thông tin thư viện, Tiêu đề mang ý nghĩa là Điểm truy cập (Access point). Nói cách khác, Tiêu đề hay Điểm truy cập là Một tên gọi, Một từ, hay Một ký hiệu, qua đó người tìm tin có thể tìm kiếm và định vị được thông tin.
|
Định nghĩa và phân loại Thư viện chuyên ngành đa ngành
|
|
1. Thư viện của viện, trung tâm nghiên cứu khoa học: được thành lập nhằm phục vụ nhu cầu của cán bộ, công chức trong phạm vi của viện, trung tâm và có thể phục vụ những đối tượng khác phù hợp với quy chế của thư viện.
2. Thư viện của nhà trường và cơ sở giáo dục khác: được thành lập nhằm phục vụ nhu cầu của cán bộ, nhà giáo, người học trong phạm vi của nhà trường, cơ sở giáo dục khác và có thể phục vụ những đối tượng khác phù hợp với quy chế của thư viện
3. Thư viện của cơ quan Nhà nước: được thành lập nhằm phục vụ nhu cầu của cán bộ, công chức trong phạm vi cơ quan và có thể phục vụ những đối tượng khác phù hợp với quy chế của thư viện
4. Thư viện của đơn vị vũ trang: được thành lập nhằm phục vụ những đối tượng khác phù hợp với quy chế của thư viện.
5. Thư viện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp: được thành lập chủ yếu nhằm phục vụ các thành viên trong phạm vi tổ chức, đơn vị và có thể phục vụ những đối tượng khác phù hợp với quy chế của thư viện.
|
Tài liệu tham khảo
|
Thư viện học
|
Thư mục học
|
|
Những vấn đề liên quan đến thư mục học như các chuẩn AACR 2, FRBR, ISBD,...
|
Khổ mẫu XML
|
|
Các khổ mẫu thư mục sử dụng XML làm khuôn dạng để mã hóa các trường thông tin siêu dữ liệu (metadata) của tư liệu được biên mục. Ví dụ: Dublin Core, MODS, MADS, ONIX, ...
|
Khung phân loại
|
|
Giới thiệu về các khung phân loại được sử dụng trong công tác biên mục tư liệu thư viện. Ví dụ: DDC, LC, Subject Headings,...
|
Khổ mẫu MARC
|
|
Những tài liệu giới thiệu các khổ mẫu thư mục sử dụng tiêu chuẩn ISO 2709 để mã hóa cấu trúc của biểu ghi thư mục. Một số chuẩn MARC thông dụng nhất như MARC 21, UNIMARC,...
|
Giao thức truyền thông
|
|
Giới thiệu về các giao thức trao đổi dữ liệu thường được sử dụng trong các hệ thống phần mềm thư viện hoặc cơ sở dữ liệu thư mục/toàn văn trực tuyến. Ví dụ: Z39.50, OAI-PMH
|
Sở hữu trí tuệ
|
|
Các trang web, tài liệu, bài viết liên quan đến vấn đề sở hữu trí tuệ nói chung và vấn đề sở hữu trí tuệ trong hoạt động thư viện nói riêng.
|
Công tác thư viện
|
|
Các văn bản, tư liệu, web site cung cấp những kinh nghiệm, quy trình nghiệp vụ, thiết bị công nghệ phục vụ cho các công tác quản lý thư viện.
|
Quản lý tri thức
|
|
Quản lý tri thức, viết tắt là KM (Knowledge management) dùng để chỉ những công nghệ, kỹ thuật, hoặc những thông lệ xã hội nhằm thu thập và tổ chức "tri thức" sao cho có thể áp dụng chúng vào một địa điểm và thời điểm phù hợp. Nói chung, việc quản lý tri thức trong một doanh nghiệp tập trung vào những ứng dụng phần mềm hoặc cơ sở dữ liệu mà doanh nghiệp sử dụng cho mục đích thu thập thông tin.
|
GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CÁC BỘ SƯU TẬP TÀI LIỆU SỐ (PGS.TS. Hoàng Đức Liên,TVVC. Nguyễn Hữu Ty,Trung tâm Thông tin - Thư viện ĐH Nông nghiệp I)
|
|
Thư viện điện tử và Thư viện số là những khái niệm đang còn rất mới ở Việt nam và cũng tồn tại nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau:
Thư viện điện tử (TVĐT): Khái niệm về thư viện điện tử được định nghĩa như sau: “Một hệ thống thông tin trong đó các nguồn thông tin dều có sẵn dướI dạng có thể xử lý được bằng máy tính và trong đó tất cả các chức năng bổ sung, lưu trữ, bảo quản, tìm kiếm, truy cập và hiển thị đều sử dụng kỹ thuật số”.
|
Khám phá bản thân với Imagini
|
|
Trang web www.imagini.net sẽ cho bạn những thông số bất ngờ về bản thân mình chỉ bằng cách nhắp chuột lên những bức ảnh để trả lời cho những câu hỏi chương trình đưa ra.
|
Cán bộ thư viện số
|
|
Các thư viện số đòi hỏi phải có các cán bộ thư viện số. Các bộ sưu tập số hóa cần được chọn lọc, thu thập, tổ chức, tạo truy cập và bảo quản. Các dịch vụ của thư viện số cần được thực hiện đúng kế hoạch, thực hiện đúng hợp đồng và được giúp đỡ đầy đủ. Các máy tính là các công cụ quan trọng nhất trong xây dựng các thư viện số nhưng con người mới giúp cho các hoạt động trong thư viện kết hợp lại với nhau và duy trì hoạt động của thư viện.
|
Thư viện số với hệ thống nguồn mở (NGUYỄN MINH HIỆP, BA., MS. GĐ. Thư viện Đại học Khoa học Tự nhiên TP. Hồ Chí Minh)
|
|
Hiện nay trên thế giới, xu thế phát triển Thư viện số đã trở thành một phần chủ đạo trong toàn cảnh hoạt động thông tin thư viện, trong khi phần mềm nguồn mở trở thành một hiện tượng toàn cầu. Giống như nhiên liệu và động cơ trong kỹ thuật, nguồn mở và thư viện số là hai yếu tố không thể tách rời.
|
SMS - Ứng dụng SMS trong thư viện số
|
|
SMS (Short messaging service) là hình thức gửi tin nhắn văn bản được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới. Đây là hình thức giao tiếp qua điện thoại rẻ nhưng chưa có nhiều nghiên cứu để ứng dụng nó trong thư viện. Nghiên cứu này sẽ tập trung phân tích việc ứng dụng SMS trong các thư viện dựa vào công nghệ tìm kiếm và phân tích thuật ngữ trên Internet. Nửa số thư viện có trang web sử dụng tiếng Anh được khảo sát đều sử dụng SMS và số lượng này được phân đều giữa các thư viện khoa học và công cộng, cùng với hai thư viện quốc gia.
Các thư viện sử dụng công nghệ này trải rộng trên 14 nước và tập trung đông nhất ở Vương Quốc Anh. Công nghệ này được ứng dụng chủ yếu trong lĩnh vực lưu thông, đặc biệt là trong lưu trữ. Một vài thư viện đã cung cấp các dịch vụ tra cứu với giá cả và mức độ phức tạp khác nhau đối với mỗi mô hình ứng dụng khác nhau. Nhiều ý kiến cho rằng các thư viện nên giúp đỡ lẫn nhau trong việc ứng dụng SMS.
|